nhẫn mỹ quân đội bạc xưa 1966 1969


nhẫn mỹ quân đội bạc xưa 1966 1969Trên cùng là logo đại bàng quốc huy Hoa Kỳ sắc nét…bao quanh là dòng chữ Viet Nam Veteran. (Cựu binh Mỹ tham gia chiến trường VN).-Bên hông phải nhẫn chạm khắc...

Giá ban đầu 0₫

Sản phẩm trước Sản phẩm tiếp theo

nhẫn mỹ quân đội bạc xưa 1966 1969

Trên cùng là logo đại bàng quốc huy Hoa Kỳ sắc nét…bao quanh là dòng chữ Viet Nam Veteran. (Cựu binh Mỹ tham gia chiến trường VN).

-Bên hông phải nhẫn chạm khắc hình ảnh biểu tượng rồng bên lũy tre làng, đi kèm với màu men xanh vàng đỏ (cờ 3 màu thời ông Thiệu) nổi bật và dòng chữ “Republic of Viet Nam service” (Việt Nam Cộng hòa).

-Bên hông trái nhẫn là hình ảnh người cựu binh đứng bên bức tường tưởng niệm cùng với dòng chữ “You are not forgoten” (Bạn không bao giờ bị lãng quên).

- Lòng nhẫn khắc : Sterl ( bạc xưa rất hiếm). RFM (1966-1969) đây là số năm đánh dấu của người lính Mỹ tham gia chiến trường Việt Nam.

- Nhẫn Size 11 lòng trong đo ngang lọt lòng được 21mm dành cho các bác tay to mập lên tay rất sáng tài.

Nhẫn chất liệu bạc xưa được áo nhẹ lớp vàng mỏng bên ngoài đẹp nguyên vẹn như chưa hề đeo. Mời các bạn xem hình:

nhẫn mỹ quân đội bạc xưa 1966 1969

nhẫn mỹ quân đội bạc xưa 1966 1969

nhẫn mỹ quân đội bạc xưa 1966 1969

nhẫn mỹ quân đội bạc xưa 1966 1969

nhẫn mỹ quân đội bạc xưa 1966 1969

nhẫn mỹ quân đội bạc xưa 1966 1969

nhẫn mỹ quân đội bạc xưa 1966 1969

nhẫn mỹ quân đội bạc xưa 1966 1969

nhẫn mỹ quân đội bạc xưa 1966 1969

nhẫn mỹ quân đội bạc xưa 1966 1969

nhẫn mỹ quân đội bạc xưa 1966 1969

nhẫn bạc nam quân đội veteran

Đôi nét về sư đoàn 1ST tham gia Chiến tranh Việt Nam 

Năm 1965, Trung đoàn Marine 7 tham gia vào hoạt động Starlite và Piranha , các cuộc đụng độ lớn đầu tiên cho bộ binh Mỹ trong miền Nam Việt Nam . tháng 3 năm 1966 đã nhìn thấy doanh Sư Đoàn 1 Marine thành lập tại Chu Lai.  Vào tháng Sáu, toàn bộ Sư đoàn là trong miền Nam Việt Nam , khu vực hoạt động của nó-hai tỉnh phía Nam củaQuân Đoàn I – Quảng Tín và Quảng Ngãi .Giữa tháng ba và tháng 10 năm 1966 đến tháng năm 1967, bộ phận thực hiện 44 hoạt động được đặt tên. Trong năm 1968 Tổng Công Kích Tết , bộ phận đã tham gia vào giao tranh ác liệt với cả Việt Cộng và quân đội Bắc Việt yếu tố. Nó đã thành công trong việc đánh bại cuộc tấn công trở lại của đối phương trong các lĩnh vực hoạt động của mình. Bộ phận nhận Tổng Thống thứ 7 lời trích dẫn cho dịch vụ từ 29 tháng Ba năm 1966 ngày 15 tháng 9 năm 1967.  và một thứ 8 trong khoảng thời gian ngày 16 tháng 9 năm 1967 đến 31 Tháng Mười năm 1968.

Sau sáu năm khó khăn của chiến đấu, Sư Đoàn TQLC 1 trở về nhà Camp Pendleton vào năm 1971. Vào năm 1975, bộ phận hỗ trợ di tản Sài Gòn bằng cách cung cấp thức ăn và nơi trú ẩn tạm thời tại Trại Pendleton cho người Việt tị nạn khi họ đến Hoa Kỳ.

Chiến tranh Việt Nam

Thủy quân lục chiến của Tiểu Đoàn 2, Thủy quân lục 7 trong Chiến Allen Brook tại Việt Nam, 1968
Thủy quân lục chiến phục vụ một vai trò quan trọng trong cuộc chiến tranh Việt Nam tham gia vào các trận đánh như Đà Nẵng, Thành phố Huế, Con Thiên và Khe Sanh. Các cá nhân từ các USMC hoạt động ở Bắc Quân Đoàn I khu vực miền Nam Việt Nam. Trong khi đó, họ cũng liên tục tham gia vào một cuộc chiến tranh du kích chống Việt Cộng, cùng với một cuộc chiến tranh thông thường không liên tục chống lại quân đội chính quy Bắc Việt (NVA). Một số phần của Quân đoàn chịu trách nhiệm về chương trình ít được biết đến Combined Action (CAP) mà thực hiện các kỹ thuật đặc biệt cho quá chống nổi dậy và làm việc như cố vấn quân sự đến Cộng hoà TQLC Việt Nam. Thủy quân lục chiến đã được thu hồi trong năm 1971, và trở về một chút vào năm 1975 để di tản Sài Gòn và cố gắng giải cứu các phi hành đoàn của Mayaguez.

Việt Nam là cuộc chiến tranh dài nhất cho Thủy quân lục chiến; bởi kết thúc của nó, 13.091  đã bị giết trong hành động, 51.392 bị thương, và 57 Huy chương Danh dự đã được trao giải thưởng.  Do các chính sách liên quan đến luân chuyển, nhiều lính thủy đánh bộ đã được triển khai cho dịch vụ trong Việt Nam so với Thế chiến II.

Trong khi phục hồi từ Việt Nam, Quân đoàn đạt điểm thấp bất lợi trong lịch sử dịch vụ của nó gây ra bằng những hình phạt tòa án-võ và phi tư pháp liên quan một phần để tăng sự vắng mặt và đào ngũ trái phép trong thời gian chiến tranh. Đại tu của Quân đoàn bắt đầu vào cuối năm 1970, xả quá hạn nhất, và một khi chất lượng của tân binh mới được cải thiện, Quân đoàn tập trung vào cải cách Corps NCO, một phần chức năng quan trọng của lực lượng của mình.

Tạm thời: Chiến tranh Việt Nam đến cuộc chiến tranh chống khủng bố

Memorial Beirut tại Marine Corps Base Camp Lejeune
Sau khi chiến tranh Việt Nam, Hải quân Mỹ bắt đầu vai trò viễn chinh của họ, tham gia thất bại năm 1980 Iran nỗ lực giải cứu con tin Operation Eagle Claw, cuộc xâm lược của Grenada (Operation Urgent Fury) và cuộc xâm lược Panama (Operation Just Cause). Trên 23 Tháng mười 1983, tòa nhà trụ sở Marine ở Beirut, Lebanon, đã bị đánh bom, gây ra những tổn thất trong thời bình cao nhất cho các quân đoàn trong lịch sử của nó (220 thủy quân lục chiến và 21 thành viên dịch vụ khác đã bị giết) và dẫn đến việc Mỹ rút quân khỏi đất nước. Năm 1990 chứng kiến ​​Marines của phần Task Force Sharp Edge cứu hàng ngàn sinh mạng bằng cách di tản công dân Anh, Pháp và Mỹ từ bạo lực của cuộc nội chiến Liberia.

US Marines từ Tiểu đoàn 3, Thủy quân lục chiến thứ 3 trong việc triển khai Desert Storm trong 1990-1991
Trong chiến tranh vùng Vịnh Ba Tư (1990-1991), lực lượng đặc nhiệm hải hình thành cốt lõi ban đầu cho Operation Desert Shield, trong khi Hoa Kỳ và Liên minh quân huy động, và sau đó giải phóng Kuwait trong Chiến dịch Bão táp sa mạc. Thủy quân lục chiến tham gia hoạt động chiến đấu ở Somalia (1992-1995) trong quá trình hoạt động Restore Hope, Restore Hope II, và United Shield để cung cấp cứu trợ nhân đạo.  Năm 1997, Thủy quân lục chiến đã tham gia vào hoạt động Bạc Wake, việc sơ tán công dân Mỹ từ Đại sứ quán Mỹ tại Tirana, Albania.